Ar (t) chitecture: Nghệ thuật, Tâm lý & Thiết kế

"Tôi tin vào khả năng của nghệ thuật để chữa lành tinh thần." - Colleen Grey

Nghệ thuật có thể chữa lành tâm hồn bạn? Thiết kế có thể là chất xúc tác? Chúng ta có thể tích hợp cả hai để tăng cường sức khỏe và hạnh phúc không?

Những luồng lập luận này hỗ trợ mạnh mẽ cho khái niệm Nghệ thuật chữa bệnh hay Nghệ thuật trị liệu cho không gian nội thất. Liệu pháp nghệ thuật (kết hợp các nghiên cứu về nghệ thuật và tâm lý học) là một phát minh của thế kỷ 20. Thuật ngữ này được đặt ra vào năm 1942 bởi Adrian Hill.

Trong hai thập kỷ tiếp theo, mối quan tâm đến liệu pháp nghệ thuật tăng lên nhanh chóng.

Đến năm 1970, các hiệp hội chuyên nghiệp của các nhà trị liệu nghệ thuật đã được thành lập ở Anh và Mỹ, và sau đó là ở nhiều nước khác.

Mặc dù sự quan tâm ban đầu của Hill là về sức mạnh của nghệ thuật để chữa lành bệnh thể chất, nhưng liệu pháp nghệ thuật đã trở nên nổi tiếng sau đó là do hai nguồn.

Đầu tiên, có ảnh hưởng của Freud và việc sử dụng rộng rãi các liệu pháp tâm lý với nhiều loại khác nhau mà tâm lý học Freud đã kích thích.

Thứ hai, nhưng không kém phần quan trọng, có lẽ, là sự kết nối giữa nghệ thuật và cảm xúc vốn được truyền thống lãng mạn của Đức trong thế kỷ 19 nhấn mạnh từ lâu. Do đó, khả năng của liệu pháp nghệ thuật dường như hiển nhiên — Sức mạnh của nghệ thuật để truyền đạt cảm xúc.

Có ba cách chính trong đó liệu pháp nghệ thuật được thực hiện.

Phương pháp đầu tiên được gọi là liệu pháp nghệ thuật phân tích.

Nó dựa trên các lý thuyết xuất phát từ tâm lý học phân tích, và trong nhiều trường hợp hơn là 'Phân tâm học'. Liệu pháp nghệ thuật phân tích tập trung vào thân chủ, nhà trị liệu, và do đó các ý tưởng được chuyển giao giữa họ thông qua nghệ thuật.

Một cách khác mà liệu pháp nghệ thuật được sử dụng là nghệ thuật 'Tâm lý trị liệu'.

Phương pháp này tập trung nhiều hơn vào nhà trị liệu tâm lý và việc họ phân tích tác phẩm nghệ thuật của khách hàng bằng lời nói.

Cách cuối cùng để kiểm tra liệu pháp nghệ thuật là thông qua lăng kính nghệ thuật như một liệu pháp. Trong tất cả các cách tiếp cận khác nhau này, khách hàng của nhà trị liệu nghệ thuật sẽ đi vào cuộc hành trình đi sâu vào suy nghĩ và cảm xúc bên trong của họ thông qua việc sử dụng sơn, giấy và bút, hoặc thậm chí là đất sét. Liệu pháp nghệ thuật giúp mọi người cải thiện chức năng nhận thức và cảm giác-vận động, lòng tự trọng, nhận thức về bản thân và khả năng phục hồi cảm xúc. Nó cũng có thể hỗ trợ giải quyết xung đột và giảm bớt sự đau khổ.

Màu sắc có thể kích hoạt cảm xúc, ảnh hưởng đến nhịp độ chú ý, tăng cường khả năng sáng tạo, mức độ an toàn tâm lý và thoải mái trong một không gian.

Ví dụ, màu đỏ là một màu kích thích có thể hỗ trợ tiêu hóa, đặc tính khiến nó trở thành một màu tốt cho phòng ăn. Các chuyên gia cho rằng màu vàng giúp tăng cường trí nhớ, có nghĩa là nó là một lựa chọn tốt cho các trung tâm học tập. Vì màu xanh lá cây và xanh lam là những màu sắc yên bình, nhẹ nhàng, chúng rất lý tưởng cho phòng khách, v.v. Điều quan trọng là phải suy nghĩ về toàn bộ không gian, bên trong và bên ngoài, và quyết định điều bạn muốn xảy ra ở chúng.

Nếu màu sắc 'quá trung tính', chúng có thể tạo ấn tượng về sự lạnh lẽo và cứng nhắc khiến bạn cảm thấy không được chào đón hoặc khó chịu. Việc sử dụng màu sắc không chỉ đơn thuần là trang trí mà còn có tác động nhiều hơn đến việc cải thiện môi trường xây dựng.

Dự án Rainbow với Tập đoàn Kỹ thuật Dulux, một hướng dẫn thiết kế sử dụng màu sắc và độ tương phản, do Đại học Reading thực hiện cho biết rằng khi lựa chọn màu sắc, người thiết kế các tòa nhà có thể có tác động lớn đến khả năng sử dụng tòa nhà của người khiếm thị. . Willard R. Daggett, Chủ tịch, Trung tâm Quốc tế về Lãnh đạo trong Giáo dục, nói về chiến lược

Tuy nhiên, theo thời gian, phạm vi của nghệ thuật đã mở rộng ra ngoài giới hạn của sức khỏe thể chất và tâm lý và tìm thấy một vai trò trong các bối cảnh xã hội và chung hơn — như một liều thuốc giải độc cho xung đột và một phương tiện xây dựng cộng đồng. Một ví dụ đáng chú ý về điều này là một Mandala. Mandala (tiếng Phạn मण्डल, maṇḍala - nghĩa đen là “vòng tròn”) là một cấu hình hình học của các biểu tượng.

 các truyền thống tâm linh khác nhau, mạn đà la có thể được sử dụng để tập trung sự chú ý của các hành giả, như một công cụ hướng dẫn tâm linh, để thiết lập một không gian thiêng liêng và như một sự trợ giúp cho thiền định. Mandala bắt nguồn từ Phật giáo; mối liên hệ của nó với tâm linh giúp chúng ta thấy được mối liên hệ với nghệ thuật xuyên nhân cách hoặc liệu pháp nghệ thuật mandala.

mà mọi người vẽ, màu sắc họ điền và tính cách của họ. Điều này cung cấp manh mối về sự tiến triển tâm lý của một người và tình trạng tâm lý hiện tại của họ dẫn đến tăng kích thích và kết quả là tăng cường các kết nối tế bào thần kinh.

“Mỗi buổi sáng, tôi phác thảo trong sổ tay một bản vẽ hình tròn nhỏ, .. dường như tương ứng với hoàn cảnh nội tâm của tôi vào thời điểm đó..Chỉ dần dần tôi mới khám phá ra mandala thực sự là gì: .. Bản thân, toàn bộ tính cách, mà nếu mọi việc suôn sẻ thì sẽ hài hòa. ”- Carl Jung
(Ký ức, Ước mơ, Suy ngẫm)

Mandala là một sơ đồ hoặc một mô hình hình học đại diện cho vũ trụ một cách tượng trưng; một mô hình thu nhỏ thời gian của vũ trụ, nhưng ban đầu nó có nghĩa là đại diện cho sự toàn vẹn và là một mô hình cho cấu trúc tổ chức của chính sự sống.

Một sơ đồ vũ trụ cho thấy tham chiếu đến thế giới vô hạn và do đó mở rộng bên ngoài và bên trong tâm trí và cơ thể. Trong Ấn Độ giáo, một mandala cơ bản, còn được gọi là Yantra, có hình dạng của một hình vuông với bốn cổng chứa một hình tròn với một điểm ở giữa. Mỗi cổng có hình dạng chung là chữ 'T'. Mandala thường có sự cân bằng hướng tâm.

Kiến trúc Phật giáo thường áp dụng mandala làm bản thiết kế để thiết kế các công trình kiến ​​trúc Phật giáo, bao gồm khu phức hợp đền thờ và bảo tháp.

Một ví dụ quan trọng về mandala trong kiến ​​trúc là Borobudur thế kỷ thứ 9 ở Trung Java, Indonesia.

Nó được xây dựng như một bảo tháp ngoại cỡ được bao quanh bởi những ngôi tháp nhỏ hơn được sắp xếp trên các bậc thang được tạo thành như một kim tự tháp bậc thang, và khi nhìn từ trên cao, nó có hình dạng của một mandala khổng lồ, đồng thời đại diện cho vũ trụ học Phật giáo và bản chất của tâm. Các ngôi đền khác từ cùng thời kỳ cũng có kế hoạch mandala bao gồm Sewu, Plaosan và Prambanan.

Các thiết kế mạn đà la tương tự cũng có thể quan sát được ở Campuchia, Thái Lan và Myanmar cũng như Ấn Độ. Một số ngôi chùa Ấn Độ có kế hoạch mandala là Vrindavan, Khajuraho, Puri, Nashik, Thiruvallur và Chidambaram.

Mục đích của kiến ​​trúc Ar (t) phải là giảm thiểu những thách thức xã hội và chính trị cũng như những tổn thương trong cuộc sống. Nói cách khác, chúng ta nên chuyển sang nghệ thuật như một phương tiện giải quyết các vấn đề và khó khăn của tập thể.

Nguồn: Nhiều nguồn qua Google

MORE buzz